THẤT TÌNH LỤC DỤC

Ngũ vị 五味:  cay (tân辛), ngọt (cam甘), chua (toan), đắng (khổ - 苦), mặn (hàm - 咸) 

http://health.people.com.cn/n1/2019/0929/c14739-31378693.html


   Thất tình Lục Dục là gì? Đây là câu trả lời thơ mộng nhất

   Đời người vốn bình thường, ở đời này không ai có thể thoát khỏi THẤT TÌNH LỤC DỤC.

   Phàm là con người, ai cũng có cảm xúc, tình cảm và những ham muốn. Tuy nhiên, khi nó bị “quá lên”, khi vượt ngoài tầm kiểm soát của con người thì đó chính là thất tình lục dục. Bảy trạng thái cảm xúc này luôn luôn tiềm ẩn ở nơi tâm thức chúng ta, hễ khi nào gặp một cơ hội thuận tiện, tự nhiên cái tình cảm ấy sẽ hiện nguyên ra bên ngoài như khi vui, người ta có bộ mặt tươi tắn, lúc buồn mặt ủ dột, lạnh nhạt, còn giận thì mặt tái mét, xanh xao, yêu thương mặt sẽ đỏ lên. Một trong 7 thứ tình cảm trên thái quá cũng khiến cho tâm sinh lý con người xáo trộn mất bình tĩnh và gây ra những hành động thiếu ý thức và gây ra tác hại. 

   Thất tình Lục Dục  đề cập đến một số phản ứng tâm lý bẩm sinh của con người. Các học giả, giáo phái và tôn giáo khác nhau có những định nghĩa hơi khác nhau về Thất tình Lục Dục, nhưng tất cả các tài liệu đều thừa nhận rằng Thất tình Lục Dục  là không thể tránh khỏi.

Hiểu đơn giản, thất tình lục dục là chỉ những cảm xúc, tình cảm của con người trong cuộc sống bình thường. Những tâm tư ấy rất khó để kiểm soát và có thể gây nên những tác động tích cực lẫn tiêu cực đến cuộc sống và các mối quan hệ của bạn. 

  Trong sách “Lễ Ký” có ghi: “Bảy cảm xúc vui, giận, buồn, sợ, yêu, ác, dục có thể làm chủ được mà không cần học.” Nghĩa là, những tâm trạng này là bẩm sinh và không thể làm chủ được nếu không có sự học hỏi.

  Trong Đạo Phật: Câu nói trong Phật giáo về cơ bản là phù hợp với câu nói trong Kinh Lễ. Bảy cảm xúc “Thất Tình” trong Phật giáo đề cập đến là 7 sắc thái cảm xúc, tâm tư, tình cảm của con người bao gồm: “mừng, giận, lo lắng, ghét, yêu, vui và ham muốn/sợ ”.

  Trong Y học cổ truyền Trung Quốc cũng có một câu nói tương tự, bảy cảm xúc trong y học cổ truyền đề cập đến “vui (Hỷ-), giận (nộ-), lo lắng (ưu-), suy nghĩ (tư-), buồn (bi-), sợ hãi (khủng-) và ngạc nhiên (kinh-)” (nhưng chỉ có năm yếu tố tương ứng với Thất Tinh của Phật giáo là: “tức giận, niềm vui, suy nghĩ, nỗi buồn và sợ hãi"). 

   Y học cổ truyền Trung Quốc tin rằng bảy tâm trạng này cần được kiểm soát hợp lý. Nếu không được kiểm soát đúng cách như vui lớn, buồn lớn, hoảng loạn quá mức… sẽ dẫn đến mất cân bằng âm dương, khí huyết kém, từ đó rối loạn tâm thần này sẽ tiến triển thành cơ thể và hình thành. nhiều bệnh khác nhau. “Tư” ám chỉ sự cáu kỉnh, lo lắng và suy nghĩ quá mức. (Tim) Vui mừng khôn xiết. (Phổi) Nỗi buồn đến từ đó, và tôi không thể khóc được. (Tỳ) Nghĩ không ăn. (Gan) Nóng giận có thể làm tổn thương gan. (Thận) Quá sợ hãi, gây tiểu tiện.


Bảy trạng thái cảm xúc tâm lý này luôn tồn tại trong tâm thức của mỗi con người, trước những hoàn cảnh, sự việc khác nhau mà những cảm xúc ấy sẽ được bộc lộ và thể hiện rõ nét ra bên ngoài. 

   Bảy cảm xúc này của con người là bẩm sinh. Theo bản năng, chúng ta cười khi gặp điều vui vẻ; chúng ta sẽ tức giận khi gặp phải những điều chạm đến cảm xúc không tốt; chúng ta sẽ buồn khi gặp khó khăn; chúng ta sẽ sợ hãi khi gặp phải những điều không thể giải quyết được; chúng ta sẽ thích những người vui vẻ với nhau và chúng ta sẽ háo hức có được khi gặp được những thứ chúng ta thích.

“Thất tình lục dục” có thể khiến mỗi người chúng ta dễ dàng mất đi khả năng suy nghĩ và kiểm soát cảm xúc. Chính bởi vậy, việc học cách kiềm chế cảm xúc, học cách bình tĩnh, không để cảm xúc lấn át suy nghĩ, tập cách bỏ qua những oán hận trong lòng là điều rất quan trọng. 

   Con người đều có những ham muốn trong lòng nên sẽ đầy tò mò về thế giới và đầy kỳ vọng vào cuộc sống.


Thất tình lục dục là một câu thường được sử dụng trong Phật Giáo. Theo Phật pháp thì thất tình chính là 7 sắc thái biểu cảm khác nhau của con người. Có thể kể đến như vui, buồn, giận hờn… Còn lục dục chính là 6 nguyên nhân khiến cho con người đem lòng yêu mến một ai đó. 

THẤT TÌNH LỤC DỤC TRONG PHẬT GIÁO NGHĨA LÀ GÌ?

   Thất Tình trong tiếng Anh là seven emotions, 七情 ) –  7 th tình cm hay 7 trng thái tâm lý/cm xúc ca con người bao gm:

   1. Mừng (Hỷ), tức trạng thái vui mừng; 2. Giận (Nộ); 3. Buồn (Ai); 4. Ghét (Ố); 5. Yêu, thương (Ái); 6. Vui (Lạc) – trạng thái vui vẻ, nhẹ nhàng ở mức vi tế (tinh tế) hơn so với trạng thái Mừng (Hỷ); 7. Ham muốn (dục).

   Ta còn có cách gọi khác: mừng, giận, yêu, ghét, buồn, vui, sợ (Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Cụ).

   

  Cụ thể như sau:  

1.      Hỷ (喜 – Pleasure/Happiness): là hạnh phúc, sự mừng vui, mừng rỡ rất dễ nhận thấy qua ánh mắt, nụ cười hiện lên trên khuôn mặt và những cử chỉ.  Hỷ là trạng thái cảm xúc khi đạt được thành công.

2.      Nộ (怒 - Anger): là sự tức giận, bực bội của con người trước sự vật hoặc tình huống nào khi có việc gì đó diễn ra mà không cảm thấy vừa lòng. “Nộ” là trạng thái cảm xúc tiêu cực và đôi khi chúng có thể dẫn đến những hành vi mất kiểm soát.  

3.      Ai (哀 – Sadness/ Sorrow): là sự đau khổ, buồn bã khi bạn làm mất đi một thứ gì đó. Biểu hiện dễ nhận thấy nhất khi nhắc đến “Ai” là sự mất tập trung, đau khổ.  

4.      Lạc (乐 - Joy): là biểu hiện của niềm vui nhưng “lạc” là trạng thái cảm xúc hạnh phúc trong khoảng thời gian ngắn và không kéo dài quá lâu. 

5.      Ái ( - Love): là biểu hiện của tình cảm đối với một sự vật hay hiện tượng nào đó, là cảm xúc yêu mến, quý một sự vật hay con người được gọi là “ái” sự nhân ái của mình đối với người khác. 

6.      Ố (恶 - Hate/Evil): là trạng thái ganh ghét, ghét bỏ những sự vật hay hiện tượng mà con người cảm thấy không vừa lòng. Ố được sinh ra bởi sự ganh ghét, sự đố kỵ và không tự tin.“ố” còn có thể đến từ những mặc cảm tự ti hoặc đôi khi đơn giản là ghen tị vì người khác có những thứ tốt hơn mình. 

7.      Dục (欲 - Desire): là sự thèm muốn, khát vọng về một điều gì đó mà bản thân chưa có được. Đó có thể là tiền tài, địa vị, quyền lực  hay đôi khi là mong muốn về mặt tình cảm..

   

Lục dục là gì?Tiếng Anh là six desires, tiếng Trung là 六欲, tức sáu sự ham muốn, bao gồm:

"Lục Dục" là gì? Quan niệm được đưa ra trong "Lã Thị Xuân thu- Quý Sinh": "Cái gọi là cuộc sống viên mãn là người có đủ sáu ham muốn." Cao Dụ, một triết gia thời Đông Hán, nhận xét về điều này: "Sáu ham muốn bao gồm sống, chết, tai, mắt, miệng, mũi (生、死、耳、目、口、鼻)” cho thấy lục dục nhìn chung chỉ những nhu cầu hoặc ham muốn sinh lý của con người. Con người muốn sinh tồn, sống có hương vị, có âm thanh và màu sắc nên miệng muốn ăn, lưỡi muốn nếm, mắt muốn thấy, tai muốn nghe, mũi muốn ngửi. ham muốn là bẩm sinh và không cần phải dạy. Sau này, tóm tắt lại thành sáu dục vọng: “thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ và suy nghĩ”.


1. Kiến dục (见): trạng thái biểu hiện sự thích thú về cái nhìn, hay có nghĩa là chính hình sắc bên ngoài làm cho ta say đắm, yêu thích. chỉ ham muốn thích được nhìn thấy cái đẹp, ham muốn nhìn, tham lam vật đẹp lạ, sự ham muốn/ưa thích/thỏa mãn về mọi đối tượng hay sự vật mà con mắt nhìn thấy/ghi nhận đều thuộc về sắc dục. 

2. Nhĩ dục (耳): với nghĩa muốn nghe những âm thanh hay, tinh tế và êm ái, ham muốn nghe, tham âm thanh êm tai, dễ chịu và khen ngợi.Là tình cảm vướng mắc do những âm thanh gây ra. Âm thanh không chỉ là tiếng nói từ người khác phái mà còn là mọi tiếng động có thể nghe thấy.

3. Tì dục (鼻): ham muốn/ưa thích ngửi mùi thơm dễ chịu, ham muốn hương thơm, tham hương thơm. Là sự đa mê vào một hay những loại mùi vị khác nhau. Hay nói cách khác, Tì Dục là mùi vị nào đó làm chúng ta khó quên.

4. Thiệt Dục (舌): ham muốn/ưa thích vị ngon do món ăn, đồ uống mang lại. ham muốn vị giác, tham lam đối với thức ăn và khoái cảm ở miệng. Là sự đam mê, chìm đắm vào những món ăn. Mỗi người sẽ có sở thích riêng về mùi vị thức ăn sau đó bị hương vị ấy thôi thúc, điều khiển.

5. Thân dục (身): những mong muốn được cảm nhận về mặt xúc giác, những ham muốn về mặt thể xác, ham muốn xúc chạm, tham lam thoải mái và hưởng thụ. Thân Dục trong khía cạnh này không chỉ là cảm xúc giữa nam và nữ. Đối tượng của Thân Dục ở đây là tất cả mọi điều, mọi thứ làm bản thân thích thú.

6. Ý dục (意): ham muốn ý nghĩ (ý tưởng, quan điểm .v.v.) với những sở thích muốn được thỏa mãn, ham muốn tình dục, danh vọng, giàu có, tình yêu. Là những hình ảnh, hình tượng được các giác quan thu nhận và quan tâm.


  Chúng ta thường thấy trong văn học, phim ảnh và truyền hình, khi các Phật tử thường nói về Sắc và tánh Không, thực ra Sắc được nói đến ở đây không phải ám chỉ về sắc đẹp của phụ nữ mà là ám chỉ đến mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý đều Không. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là những gì trong Phật giáo gọi là Lục căn, tức là người nào không buông bỏ được Lục dục thì có thể coi là có Lục căn bất tịnh.

Từ cách mô tả sáu sự ham muốn(lục dục) nói trên, cũng có thể phân chia lục dục theo sự ham muốn tính dục giữa người với người và sự ham muốn với các đối tượng/sự vật khác trong thế giới tự nhiên.

Trong kinh điển Phật giáo “Đại Trí Độ Luận (大智度论)”, sáu ham muốn ám chỉ dục vọng,

Đối với “thân dục” ở người khác giới

  • Sắc dục 色欲: Sắc dục chỉ nét đẹp của người khác khiến cho bạn bị mê mẩn và tê liệt hoàn toàn ý chí. Nói nôm na thì sắc dục chính là ham muốn về vẻ bên ngoài của người khác. 
  • Hình mạo dục 形貌欲: Cũng tương tự như sắc dục nhưng là sự mê mẩn về vóc dáng và hình thể của người khác giới. 
  • Oai Nghi Tư Thái Dục 威仪姿态欲: “Oai Nghi” là động tác và cử chỉ con người. Oai Nghi Dục là sự cuốn hút về cử chỉ, động tác của người khác giới đối với bản thân.
  • Ngôn Ngữ Âm Thanh Dục 言语音声欲: Đối với người khác phái, âm thanh đôi khi có sự mê hoặc vô cùng lớn. Có nhiều người dù không đẹp nhưng phát ra những thanh âm quyến rũ. 
  • Tế Hoạt Dục 细滑欲: Là cảm xúc khi bạn và người khác giới có những va chạm với nhau. Điều này dẫn đến sự xúc chạm tạo ra cảm giác say đắm, thân thuộc và rất lôi cuốn. 
  • Nhân Tướng Dục人相欲: “Nhân Tướng” tức là tướng mạo vẹn toàn. Không chỉ tính cách, dáng vẻ sang trọng, quý phái mà còn sở hữu những nét hiền hậu. Vì thế họ nhanh chóng bị thu hút. 
 

  • Có những người có thể bình thường rất hiền lành nhưng đứng trước những tình huống khó khăn cơn nóng giận của họ rất dễ bùng nổ và gây ảnh hưởng đến những người xung quanh. Một trong 7 thứ cảm xúc trên nếu biểu hiện quá mức sẽ làm con người mất bình tĩnh và có thể dẫn đến những hành động xấu, tiêu cực. 

“Bảy tình sáu dục” Người xưa có cách giải thích riêng, con người ngày nay cũng có cách hiểu riêng.


Bảy cảm xúc là bảy cảm xúc: vui, giận, buồn, sợ hãi, yêu, ghét và thương hại. Sáu ham muốn, tức là sáu loại ham muốn: ham muốn sinh tồn, ham muốn tri thức, ham muốn thể hiện, ham muốn thực hiện, ham muốn thoải mái và ham muốn. Tất cả cảm xúc của con người có thể được tóm tắt thành bảy cảm xúc nêu trên; mọi ham muốn của con người có thể được tóm tắt hoặc chia nhỏ thành sáu ham muốn nêu trên.

七情,即七种情绪:喜怒哀惧爱恨怜。六欲,即六种欲望:求生欲、求知欲、 表达欲、表现欲、舒适欲、情欲。人的所有情绪,都可归纳为上述七情;人的所有欲望,都可归纳或分解为上述六欲。

Chúng ta thường nói con người có bảy tình sáu dục, nhưng bảy tình sáu dục chúng ta thường muốn nói đến bảy tình sáu dục là gì? Bảy cảm xúc thường đề cập đến những biểu hiện cảm xúc và hoạt động tâm lý, trong khi sáu ham muốn thường đề cập đến nhu cầu hoặc mong muốn sinh lý của con người.


Cái gọi là bảy cảm xúc chỉ bảy cảm xúc của con người. Theo Nho giáo, đó là: vui, giận, buồn, sợ, yêu, ác và ham muốn. Ngoài bảy cảm xúc mà Nho giáo đề cập, bảy cảm xúc của thầy thuốc là: vui, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ hãi, ngạc nhiên. Rõ ràng, bảy cảm xúc của Nho giáo đều dựa trên tính cách con người, và bảy cảm xúc của con người. bác sĩ được sử dụng để kiểm tra bệnh lý.




Ban đầu, người xưa chỉ nói rằng con người có bốn cảm xúc là “vui, giận, buồn, vui” xuất hiện trong “Học thuyết về nghĩa”. Người đời sau giải thích rằng khi gặp được thứ mình thích thì “vui vẻ”, khi gặp được thứ mình không thích thì “tức giận”, khi được được thứ mình yêu thích thì “vui mừng”, còn khi mất đi thì sẽ “hạnh phúc”. cái gì họ yêu thích thì họ sẽ “buồn”.


Vậy thì chắc hẳn bạn đã nhận thấy rằng "giận" đến từ "ác" và "niềm vui" đến từ "tình yêu", vì vậy ngoài "vui, giận, buồn, vui", "ác" và "yêu" được thêm vào, cảm xúc. được chia từ bốn loại thành sáu loại.


Cách phân loại cảm xúc của tổ tiên thật đáng khâm phục. Thông thường có sáu loại, phải không? Nhưng người xưa cho rằng, con người vẫn sẽ có những cảm xúc như “giận”, “buồn” khi “sắp đến mà chưa” – tức là khi những cảm xúc đó chưa đạt đến mức độ. “điểm”, “Sợ hãi”, do đó sáu cảm xúc được chia thành bảy, đây là nguồn gốc của “bảy cảm xúc”.


Bạn cẩn thận chắc chắn sẽ hỏi, chẳng phải tôi vừa nói trong bảy loại cảm xúc có “ham muốn”, tại sao trong phần giải thích lại không đề cập đến “ham muốn” mà lại đề cập đến “niềm vui”?


Câu hỏi hay, người xưa đã giải thích rồi. “Hạnh phúc” và “ham muốn” được kết nối với nhau. Vậy “ham muốn” có nghĩa là gì, người xưa nói đó là lòng tham. Từ “tham” ở đây không hoàn toàn mang tính xúc phạm mà nó ám chỉ những nhu cầu bản năng, chẳng hạn như nhu cầu có mắt để nhìn sự vật và nhu cầu có tai để nghe âm thanh - Kinh Lễ nói rằng bảy cảm xúc là “không học được và có thể". Nghĩa là gì, nghĩa là bạn không cần phải học, nó là bản năng.

“Lục dục” và “bảy cảm xúc” là bẩm sinh của con người và có thể hiểu được. Tuy nhiên, những ham muốn, cảm xúc xấu xa, thái quá sẽ làm tổn hại đến chức năng sinh lý của các cơ quan nội tạng, khí huyết trong cơ thể con người, khiến chúng trở nên rối loạn và dẫn đến bệnh tật.


Lục dục là nguồn gốc của bảy cảm xúc, nếu không đam mê dục vọng sẽ khiến bảy cảm xúc mất kiểm soát và sinh ra bệnh tật. Có nhiều cách giải thích về lục dục, ban đầu Phật giáo muốn thanh lọc sáu căn, tức là lục dục đối với người khác giới: sắc dục, hình tướng, uy nghi, lời nói và âm thanh, sự thông suốt và sự tiếp xúc giữa người với người. Nhưng các thế hệ sau tin rằng sáu ham muốn này thực chất chỉ là một niềm đam mê, và những ham muốn tự nhiên của con người còn nhiều hơn thế. Các giác quan của con người như mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, da đều có ham muốn hưởng thụ, nếu quá tham lam và không thể thỏa mãn ở đời thực sẽ trở thành cơ sở sinh lý của bệnh bảy cảm xúc. .

Cách giải thích về bảy cảm xúc cũng tương tự như Nho giáo, Phật giáo và Trung y, bảy cảm xúc được ghi trong sách y học là vui, giận, lo lắng, suy nghĩ, buồn bã, sợ hãi và bất ngờ. Mỗi cảm xúc trong số bảy cảm xúc đều có quy luật riêng và cần được dừng lại một cách có chừng mực. Bảy cảm xúc quá mức có thể dẫn đến rối loạn chức năng thần kinh, rối loạn âm dương trong cơ thể, dẫn đến nhiều bệnh tật, lão hóa sớm và tuổi thọ ngắn ngủi. Y học hiện đại cũng đã xác nhận rằng 50% đến 80% bệnh tật của con người là do các vấn đề về cảm xúc và tinh thần.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Hào phóng hay keo kiệt cũng do gen của con người

Ba chữ C: Trau dồi Kết nối, Giao tiếp và Hợp tác - Cổng 59

Ứng dụng năng lượng Quẻ Dịch